Cao su NBR là gì: hàm lượng ACN 18 đến 50%, dải nhiệt và khả năng chịu dầu
Kiến thức vật tư làm kín và truyền độngPhòng kỹ thuật Công Nghiệp Trần Quyết7 phút đọcCập nhật 30/10/2026
Mục lục
- Cao su NBR là gì
- Hàm lượng ACN thấp, vừa, cao ảnh hưởng thế nào tới cao su NBR
- Dải nhiệt và độ cứng của cao su NBR
- Cao su NBR chịu được gì và không chịu được gì
- HNBR và XNBR: hai biến thể của cao su NBR
- So sánh cao su NBR với FKM, EPDM và CR
- Câu hỏi thường gặp về cao su NBR
- Cao su NBR chịu nhiệt bao nhiêu độ?
- NBR có chịu được xăng dầu không?
- Hàm lượng ACN trong NBR là gì?
- NBR và Viton nên chọn loại nào?
- Vì sao gioăng NBR để ngoài trời bị nứt?
Cao su NBR (nitrile, Buna-N) là cao su tổng hợp từ acrylonitrile (ACN) và butadien, hàm lượng ACN từ 18% tới 50%. ACN càng cao thì càng chịu dầu và nhiên liệu, nhưng càng kém dẻo ở nhiệt độ lạnh. Oring, phớt chắn dầu NBR làm việc từ −30 °C tới +100 °C trong dầu khoáng, mỡ và diesel.
Cao su NBR là gì
NBR là cao su tổng hợp làm từ acrylonitrile và butadien, có cơ tính tốt và chịu mòn cao so với nhiều loại cao su khác. Parker gọi chung là cao su nitrile, với hàm lượng acrylonitrile trong hợp chất làm kín thay đổi từ 18% tới 50%. Loại NBR thông dụng thường chứa khoảng 34% ACN.
BASF và Bayer (khi đó thuộc IG Farben) phát triển NBR năm 1931, và sản xuất thương mại đầu tiên ở Đức năm 1935. Đến nay NBR là vật liệu quen thuộc của vòng làm kín tiết diện tròn, nên bài oring là gì mô tả cả kích thước lẫn vật liệu. Kho nhập oring NBR cho dầu khoáng và mỡ, cùng phớt chắn dầu TC NBR cho trục quay trong hộp dầu.
| Thông số | Giá trị |
|---|---|
| Thành phần | Acrylonitrile (ACN) và butadien |
| Hàm lượng ACN | 18% tới 50% |
| ACN của NBR thông dụng | Khoảng 34% |
| Nhiệt làm việc oring, phớt NBR | −30 °C tới +100 °C |
| Nhiệt ngắn hạn oring, phớt (Parker) | Tới 121 °C |
| Độ cứng oring NBR | 70 và 90 Shore A |
| Nhiệt làm việc tấm NBR của kho | −30 °C tới +120 °C |
| Độ cứng tấm NBR | 72 Shore A |
| Bền kéo tấm NBR | 4,76 MPa |
| Giãn dài khi đứt tấm NBR | 383% |
| Trương nở thể tích tấm khi ngâm dầu | 3,36% |
| Độ dày tấm NBR (dung sai ±0,03 mm) | 1, 2, 3, 4, 5, 10 mm |
Hàm lượng ACN thấp, vừa, cao ảnh hưởng thế nào tới cao su NBR
ACN càng cao thì cao su càng chịu dầu và nhiên liệu, đổi lại độ đàn hồi và khả năng chống nén dư giảm, nên hợp chất làm kín thường chọn mức ACN trung bình. Theo hình 2-2 của Parker, khi ACN tăng từ 20% lên 50%, độ trương nở trong dầu IRM 903 giảm và độ dẻo lạnh cũng giảm.
| Mức ACN | Chịu dầu, nhiên liệu | Dẻo ở nhiệt độ lạnh |
|---|---|---|
| Thấp (gần 18%) | Kém hơn với nhiên liệu, dầu bôi trơn phân cực | Tốt hơn |
| Trung bình (khoảng 33 đến 34%, NBR thông dụng) | Cân bằng | Cân bằng |
| Cao (tới 50%) | Cao, cần cho dầu gốc naphten | Kém hơn, đàn hồi và chống nén dư giảm |
Loại dầu gốc cũng quyết định mức ACN. Dầu gốc naphten, nhiều vòng thơm, làm NBR trương nở nên cần ACN cao. Dầu gốc parafin, nhiều mạch thẳng, ít làm trương kể cả với NBR ACN thấp. Với môi trường lạnh, hợp chất NBR chịu lạnh của Trelleborg (NBR 70, mã N7T40) làm việc từ −55 °C tới +80 °C, so với −30 °C tới +100 °C của NBR 70 thường.
Dải nhiệt và độ cứng của cao su NBR
Oring NBR 70 làm việc từ −30 °C tới +100 °C, NBR 90 từ −25 °C tới +100 °C theo Trelleborg. Phớt chắn dầu NBR 70 đến 75 Shore A cũng nằm trong khoảng −30 °C tới +100 °C. Số của tấm cao su khác với số của oring, phớt và được tách riêng ở đoạn dưới.
Parker ghi NBR chịu nhiệt tới 100 °C, ngắn hạn 121 °C, còn nhiệt độ lạnh giới hạn từ −34 °C tới −57 °C tuỳ hợp chất. Về độ cứng, oring NBR có hai cấp chuẩn là 70 và 90 Shore A. Trelleborg làm các cấp 50, 60, 70, 80, 90 Shore A, mỗi cấp sai số ±5. Phớt thuỷ lực NBR dùng nhiều ở 70 đến 90 Shore A.
Với hàng tấm, tấm cao su làm gioăng NBR chịu dầu dạng cuộn khổ 1.000 mm của kho có nhiệt làm việc −30 °C tới +120 °C, độ cứng 72 Shore A, bền kéo 4,76 MPa, giãn dài khi đứt 383%. Ngâm dầu, thể tích trương 3,36%. Dung sai độ dày ±0,03 mm, các độ dày 1, 2, 3, 4, 5 và 10 mm. Các số này chỉ áp dụng cho tấm.
Cao su NBR chịu được gì và không chịu được gì
NBR chịu hydrocarbon mạch thẳng như propan, butan, dầu mỏ, dầu khoáng, mỡ, diesel và dầu đốt. Nhóm không chịu gồm nhiên liệu nhiều chất thơm, benzen, hydrocarbon có clo, xeton, este, dầu phanh gốc glycol, ozon và thời tiết. Ranh giới này quyết định môi trường nào nên chọn NBR.
- Chịu tốt: dầu khoáng, mỡ, dầu mỡ thực vật, chất lỏng thuỷ lực HFA, HFB, HFC, axit và kiềm loãng, dung dịch muối loãng ở nhiệt độ thấp, nước (hợp chất đặc biệt tới 100 °C).
- Không chịu: hydrocarbon thơm và hydrocarbon có clo (trichloroethylene), dung môi phân cực (axeton, axit axetic, este), axit mạnh, dầu phanh gốc glycol, ozon, ánh nắng, ete và chất lỏng thuỷ lực phosphate ester.
Silicone trương nở trong dầu khoáng, vì vậy môi trường dầu dùng NBR thay cho silicone. Ở vị trí chắn bụi, bùn cho ổ trục chạm dầu, v ring cũng chọn vật liệu theo cùng nguyên tắc môi chất.
HNBR và XNBR: hai biến thể của cao su NBR
HNBR là NBR hydro hoá các liên kết đôi trong mạch, chịu nhiệt tới 149 °C; XNBR là NBR carboxyl hoá, chịu xé và mòn tốt hơn NBR thường. Hai biến thể này mở rộng giới hạn nhiệt hoặc độ bền cơ học mà NBR thường không đạt.
- HNBR: làm kín tĩnh tới −32 °C, chuyển động từ −23 °C; cơ tính cao nên chống đùn và mòn; chịu nước, hơi nước tới 149 °C và ozon. Trelleborg HNBR 70 làm việc −30 °C tới +140 °C. HNBR không chịu hydrocarbon có clo, xeton, este và axit mạnh.
- XNBR: terpolymer của butadien, acrylonitrile và axit acrylic, nhóm carboxyl chiếm 10% trở xuống. Hay làm phớt ty và gạt bụi; chịu nhiệt tới 100 °C, ngắn hạn 121 °C; lạnh từ −18 °C tới −48 °C tuỳ hợp chất.
So sánh cao su NBR với FKM, EPDM và CR
NBR rẻ và chịu dầu khoáng; FKM chịu nhiệt tới 200 °C; EPDM chịu nước, hơi, ozon nhưng không chịu dầu khoáng; CR chịu ozon và thời tiết tốt hơn NBR. Chọn theo môi chất tiếp xúc và nhiệt độ làm việc liên tục, không theo giá đơn thuần.
| Cao su | Dải nhiệt | Dầu khoáng, mỡ | Ozon, thời tiết | Dầu phanh glycol | Hơi nước, nước nóng |
|---|---|---|---|---|---|
| NBR | −30 °C tới +100 °C (oring, phớt); tấm kho −30 °C tới +120 °C | Tốt | Không chịu | Không chịu | Hợp chất đặc biệt tới 100 °C |
| HNBR | Tới 149 °C (Parker); −30 °C tới +140 °C (Trelleborg) | Tốt | Chịu | Không công bố | Tới 149 °C |
| FKM (Viton) | −20 °C tới +200 °C | Tốt | Rất tốt | Không chịu | Chỉ mác đặc biệt |
| EPDM | Tới 150 °C, lạnh khoảng −57 °C (Parker) | Không chịu | Chịu | Chịu | Tới 149 °C (đặc biệt 204 °C) |
| CR (neoprene) | −40 °C tới khoảng +120 °C | Chịu dầu parafin, hạn chế dầu naphten | Tốt hơn NBR | Hạn chế | Nước ở nhiệt độ thấp |
Khi nhiệt vượt 100 °C liên tục hoặc nhiên liệu có chất thơm, cặp thay thế là FKM. Kho có oring viton và phớt chắn dầu chịu nhiệt làm từ FKM cho các vị trí đó. Dầu phanh gốc glycol thì cả NBR lẫn FKM đều không dùng, chọn EPDM.
Số liệu trong bài theo phiếu kiểm tra COA của lô cao su NBR nhập và datasheet vật liệu của nhà sản xuất; tiêu chuẩn tham chiếu: ASTM D2000 (phân loại cao su kỹ thuật), ASTM D2240 (độ cứng Shore).
Câu hỏi thường gặp về cao su NBR
Cao su NBR chịu nhiệt bao nhiêu độ?
Oring, phớt NBR làm việc từ −30 °C tới +100 °C, Parker cho phép ngắn hạn tới 121 °C; tấm NBR của kho ghi −30 °C tới +120 °C. Cần trên 100 °C liên tục thì xét HNBR (tới 149 °C) hoặc FKM (tới 200 °C).
NBR có chịu được xăng dầu không?
Có với dầu khoáng, mỡ, diesel, dầu đốt, propan và butan; tấm NBR của kho ngâm dầu chỉ trương 3,36% thể tích. Nhiên liệu nhiều chất thơm và benzen thì không chịu, cần hợp chất đặc biệt hoặc FKM.
Hàm lượng ACN trong NBR là gì?
Là tỷ lệ acrylonitrile trong cao su, từ 18% tới 50%; NBR thông dụng khoảng 34%. ACN cao chịu dầu tốt hơn nhưng kém dẻo lạnh và kém đàn hồi.
NBR và Viton nên chọn loại nào?
Dầu khoáng dưới 100 °C thì chọn NBR 70 Shore A cho kinh tế; nhiệt tới 200 °C, nhiên liệu có chất thơm hoặc hóa chất thì chọn FKM 75 Shore A (−20 °C tới +200 °C). Dầu phanh gốc glycol thì cả hai đều không dùng, chọn EPDM.
Vì sao gioăng NBR để ngoài trời bị nứt?
Vì NBR không chịu ozon, thời tiết và lão hoá khí quyển. Ngoài trời nên chọn EPDM hoặc CR; CR chịu ozon tốt hơn NBR, làm việc từ −40 °C tới khoảng +120 °C.